Trang chủ
  Văn bản mới nhất
   Tin ảnh
   Tiêu điểm
UBND xã Nghĩa Sơn tổ chức diễn tập chữa cháy rừng cấp xã năm 2019
Công an huyện Tư Nghĩa tổ chức lễ báo công dâng Bác
Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam huyện Tư Nghĩa tổ chức Đại lễ Phật Đản Vesak 2019 tại chùa Từ Nghiêm
Ngày đưa:  06/05/2019 11:34:00 AM
Kết quả thực hiện các tiêu chí huyện nông thôn mới năm 2018
Căn cứ kết quả báo cáo đánh giá thực tế mức độ đạt từng tiêu chí huyện nông thôn mới của Đoàn đánh giá huyện, nay UBND huyện Tư Nghĩa báo cáo kết quả thực hiện các tiêu chí huyện nông thôn mới năm 2018, cụ thể như sau:

 

1. Tiêu chí số 1 về Quy hoạch

a) Yêu cầu tiêu chí

Có quy hoạch xây dựng vùng huyện được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Luật Xây dựng năm 2014 và được công bố công khai; có quy định quản lý xây dựng theo quy hoạch được phê duyệt.

b) Kết quả thực hiện

- Hồ sơ quy hoạch xây dựng vùng huyện giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong phạm vi toàn bộ địa giới hành chính của huyện được UBND tỉnh phê duyệt nhiệm vụ tại Quyết định số 647/QĐ-UBND ngày 15/9/2017; UBND huyện đã phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu tại Quyết định số 2114/QĐ-UBND ngày 19/4/2018.

- UBND huyện Tư Nghĩa đã có Đồ án Quy hoạch xây dựng vùng huyện Tư Nghĩa bao gồm toàn bộ ranh giới hành chính huyện Tư Nghĩa, gồm thị trấn La Hà, thị trấn Sông Vệ và 13 xã (Nghĩa Lâm, Nghĩa Thắng, Nghĩa Thuận, Nghĩa Kỳ, Nghĩa Sơn, Nghĩa Thọ, Nghĩa Hòa, Nghĩa Điền, Nghĩa Thương, Nghĩa Trung, Nghĩa Hiệp, Nghĩa Phương, Nghĩa Mỹ) với tổng diện tích tự nhiên 206,29 km2. Hiện Đồ án đang được Sở Xây dựng Quảng Ngãi thẩm định, trình UBND tỉnh xem xét quyết định.

c) Tự đánh giá: Đạt

 

2. Tiêu chí số 2 về giao thông

a) Yêu cầu tiêu chí

            * Đường bộ

          - Có 100% km đường huyện do huyện quản lý đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm và kết nối tới trung tâm hành chính các xã trên địa bàn; tỷ lệ mặt đường huyện được nhựa hóa hoặc bê tông xi măng hóa đạt 100%.

          - Cấp kỹ thuật đường huyện đạt tiêu chuẩn theo TCVN 4054:2005; cấp đường huyện phù hợp với quy hoạch được duyệt.

          - Hệ thống cầu, cống trên các tuyến đường huyện được xây dựng kiên cố, phù hợp với cấp đường quy hoạch.

          - Có 100% km đường huyện do huyện quản lý được bảo trì hàng năm.

          * Đường thủy (nếu có): Đường thuỷ nội địa do địa phương quản lý được lắp đặt hệ thống báo hiệu đảm bảo an toàn, thuận tiện cho các phương tiện lưu thông. Các bến thủy nội địa phục vụ vận chuyển hành khách, hàng hoá phải đảm bảo các điều kiện về an toàn và được cấp phép hoạt động.

          * Vận tải: Bến xe khách tại trung tâm huyện (nếu có theo quy hoạch) tối thiểu đạt loại 4; bố trí điểm dừng, điểm đỗ tại trung tâm các xã dọc theo quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện có tuyến vận tải khách công cộng theo quy hoạch.

b) Kết quả thực hiện

*  Đường bộ:

-Theo quy hoạch phát triển giao thông vận tải đến năm 2020 được Chủ tịch UBND huyện phê duyệt tại Quyết định số 15451/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 trên địa bàn huyện Tư Nghĩa có 20 tuyến đường huyện với tổng chiều dài là 111,6km. Đến nay đã được nhựa hóa, bê tông hóa 111,6km, đạt tỉ lệ 100%.

- Cấp kỹ thuật các tuyến đường huyện phù hợp với quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt: 20 tuyến đạt tiêu chuẩn kỹ thuật đường cấp V, VI theo TCVN 4054:2005, với bề rộng nền đường tối thiểu là 6,5m, bề rộng mặt đường tối thiểu 3,5m, phù hợp với quy hoạch được duyệt tại Quyết định số 15451/QĐ-UBND ngày 30/12/2016.

          - Hệ thống cầu, cống trên các tuyến đường huyện được xây dựng kiên cố, phù hợp với cấp đường quy hoạch: Trên các tuyến đường huyện có tổng cộng 43 chiếc (cầu dài ≥ 6m), với tổng chiều dài 1217 m. Tất cả các cầu được xây dựng kiên cố bằng BTCT hoặc thép, không có cầu yếu, khổ cầu tối thiểu 3,5m và phù hợp với cấp đường quy hoạch.

          - Có 100% km đường huyện do huyện quản lý được bảo trì hàng năm: Hàng năm, UBND huyện Tư Nghĩa đều bố trí kinh phí sự nghiệp để thực hiện việc bảo trì các tuyến đường huyện, nhằm đảo bảo giao thông êm thuận, phục vụ tốt nhu cầu đi lại của nhân dân. Trong thời gian 08 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, UBND huyện đã phân bổ trên 24,1 tỉ đồng để thực hiện công tác bảo trì đường bộ.

          *  Đường thủy nội địa: Không quy hoạch đường thủy nội địa.

          * Vận tải: Theo quy hoạch phát triển giao thông vận tải được Chủ tịch UBND huyện phê duyệt tại Quyết định số 15451/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 thì đến năm 2020 huyện Tư Nghĩa không quy hoạch bến xe khách mà chỉ có kế hoạch bố trí bãi đỗ xe dọc theo các tuyến đường tỉnh, tuyến Quốc lộ 1 đã được Sở GTVT bố trí điểm dừng xe buýt, đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân.

          c) Tự đánh giá: Đạt

 

3. Tiêu chí số 3 về Thủy lợi

a) Yêu cầu tiêu chí

- Hệ thống thủy lợi liên xã (bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với nhau về khai thác và bảo vệ từ 02 xã trở lên) được xây dựng phù hợp với quy hoạch thủy lợi đã được phê duyệt.

- Có tổ chức quản lý khai thác hệ thống thủy lợi liên xã hoạt động hiệu quả bền vững: Được thành lập theo quy định hiện hành; Quản lý khai thác hệ thống theo đúng kế hoạch được duyệt, đảm bảo điều hoà phân phối nước, tiêu nước công bằng, hợp lý; Thực hiện Phương án bảo vệ công trình thủy lợi được duyệt.

b) Kết quả thực hiện

 

- Hệ thống thủy lợi liên xã (bao gồm các công trình thuỷ lợi có liên quan trực tiếp với nhau về khai thác và bảo vệ từ 02 xã trở lên) được xây dựng phù hợp với quy hoạch thủy lợi được phê duyệt tại Quyết định số 1742/QĐ-UBND ngày 05/10/2015 của UBND tỉnh: 

 

+ Các công trình kênh mương liên xã gồm: Kênh N2, N2-8, N4, NVC16, NVC16-2, N8, N10, N10-12, N12, N16, hồ chứa nước Hóc Xoài, xã Nghĩa Thọ được xây dựng phù hợp với quy hoạch của tỉnh.

- Có tổ chức quản lý khai thác hệ thống thủy lợi liên xã hoạt động hiệu quả bền vững: Trạm thủy nông số 3 được thành lập tại Quyết định số 04/QĐ-TC ngày 18/01/1993.

 

- Hiện nay Trạm thủy nông số 3 tổ chức quản lý khai thác, sử dụng và thường xuyên theo dõi duy tu bảo dưỡng công trình thủy lợi, đảm bảo điều hoà phân phối nước, tiêu nước công bằng, hợp lý. Hàng năm trạm xây dựng phương án phòng chống thiên tai để bảo vệ công trình thủy lợi bảo đảm công trình hoạt động tưới ổn định nhằm phục vụ sản xuất cho nhân dân; xây dựng Kế hoạch sản xuất; Kế hoạch xử lý, giải tỏa vi phạm về lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn huyện. Mỗi mùa vụ Trạm thủy nông số 3 hợp đồng dịch vụ tưới với các hợp tác xã trên địa bàn huyện.  

 

- Hệ thống thủy lợi của các xã được thiết kế, xây dựng phù hợp với quy hoạch hệ thống thủy lợi chung của tỉnh. Tỷ lệ kênh mương loại III do xã quản lý đã kiên cố hóa 137,8/199,7km, đạt tỷ lệ 69%. Trên địa bàn huyện hiện có 24  hợp tác xã nông nghiệp quản lý khai thác, duy tu bảo dưỡng 199,7 km kênh mương loại III; 03 hồ chứa, 06 đập dâng và 20 trạm bơm đảm bảo nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp.

c) Tự đánh giá: Đạt

 

4. Tiêu chí số 4 về điện

a) Yêu cầu tiêu chí

Các công trình hệ thống điện trung thế liên xã đầu tư trên địa bàn huyện theo quy hoạch, đảm bảo cấp điện an toàn đạt tiêu chuẩn và đảm bảo nhu cầu sử dụng điện đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện theo hướng dẫn thực hiện của Bộ Công Thương.

b) Kết quả thực hiện

- Các công trình điện trung áp, hạ áp và trạm biến áp (hệ thống điện) đầu tư liên xã đạt các điều kiện sau:

+ Đảm bảo “đạt” thông số kỹ thuật, an toàn điện theo Tiêu chí 4.1 tại Quyết định số 4293/QĐ-BCT ngày 28/10/2016 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc Ban hành Phương pháp đánh giá thực hiện Tiêu chí số 4 về điện nông thôn trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020.

+ Đồng bộ và đạt yêu cầu kỹ thuật trong vận hành với hệ thống điện phân phối (về tần số, điện áp, cân bằng pha, sóng hài điện áp, nhấp nháy điện áp, công suất, truyền tải, hệ thống bảo vệ) liên xã theo các thông số quy định tại Thông tư số 39/TT-BCT ngày 18 tháng 11 năm 2015 của Bộ Công Thương quy định về hệ thống lưới điện phân phối.

- Hệ thống điện đầu tư giai đoạn 2016 – 2020 phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực tỉnh sau năm 2016, đảm bảo nguồn cung cấp điện đáp ứng nhu cầu sử dụng điện trong sinh hoạt, sản xuất của nhân dân và phát triển kinh tế xã hội của huyện giai đoạn 2016 – 2020.

- 100% xã trong huyện đã “đạt Tiêu chí số 4 về điện theo Hướng dẫn của Bộ Công Thương tại Quyết định số 4293/QĐ-BCT ngày 28 tháng 10 năm 2016 của Bộ Công Thương.

c) Tự đánh giá: Đạt

 

5. Tiêu chí số 5 về Y tế, Văn hóa, Giáo dục

a) Yêu cầu tiêu chí

- Bệnh viện huyện đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng 3; Trung tâm y tế huyện đạt chuẩn quốc gia.

- Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện đạt chuẩn, có nhiều hoạt động văn hóa, thể thao kết nối với các xã có hiệu quả.

- Tỷ lệ trường Trung học phổ thông đạt chuẩn ≥ 60%.

b) Kết quả thực hiện

          - Trung tâm Y tế huyện Tư Nghĩa được thành lập tại Quyết định số 2167/QĐ-UBND ngày 10/11/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh trên cơ sở hợp nhất bệnh viện Đa khoa huyện Tư Nghĩa và Trung tâm Y tế dự phòng huyện Tư Nghĩa, đồng thời được xếp hạng III tạm thời đến tháng 5/2019 tại Quyết định số 1721/QĐ-UBND ngày 16/10/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc tạm thời xếp hạng lại đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập tỉnh Quảng Ngãi.

+ Trung tâm y tế huyện có tổng số giường bệnh là 160 giường. Cơ cấu của Bệnh viện đa khoa gồm: Ban giám đốc 03 người (01 Giám đốc và 02 Phó Giám đốc); có 21 khoa, phòng (05 phòng chức năng, 16 khoa); Nhân lực gồm có 180 cán bộ, viên chức và người lao động (164 viên chức, 16 hợp đồng 68, 00 HĐ ngắn hạn), trong đó: Bác sĩ: 28 người. (Thạc sỹ: 03, CKI: 02);  Y sĩ: 13 người; Điều dưỡng: 48 người (Đại học: 08; Cao đẳng: 01); Hộ sinh: 35 người (Đại học: 05; Cao đẳng: 01) Dược sĩ: 12 người (CK1:01; Đại học: 03); Kỹ thuật viên: 12 người (Đại học: 04; cao đẳng: 02); YTCC: 01 đại học; Viên chức chuyên môn khác: 31 người (9 đại học; 03 cao đẳng).

+ Trang thiết bị, kỹ thuật chuyên môn được đầu tư mua sắm như: Máy chụp X quang Răng; Máy xét nghiệm Sinh hóa; Máy chụp X quang kỹ thuật số, máy siêu âm màu, hệ thống sắc thuốc tự động,....Chất lượng khám chữa bệnh được nâng cao, lòng tin và tín nhiệm của bệnh nhân ngày càng tăng, không có sai sót chuyên môn đáng tiếc xảy ra, đáp ứng được yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trên địa bàn huyện. Trong năm 2018, số lần khám bệnh là 165.885/87.600 đạt tỷ lệ 189,4% so với kế hoạch; Trong 4 tháng đầu năm 2019, số lần khám bệnh là 53.954/87.600 đạt tỷ lệ 61,59%; số bệnh nhân điều trị nội trú 2.456/7.500 đạt tỷ lệ 32,74%.

          - Trung tâm Truyền Thông - Văn hóa – Thể thao huyện Tư nghĩa được thành lập tại Quyết định số 1469/QĐ-UBND ngày 28/8/2018 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc thành lập Trung tâm Truyền Thông - Văn hóa – Thể thao huyện Tư nghĩa, trên cơ sở sáp nhập Đài truyền thanh huyện và tiếp nhận nguyên hiện trạng cơ sở vật chất và biên chế sự nghiệp thuộc Phòng Văn hóa và Thông tin huyện; Trụ sở làm việc của Trung tâm đặt tại tổ dân phố 3, thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi (sau đây gọi tắt là Trung tâm).

+ Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và quan hệ công tác của Trung tâm, thực hiện theo quy định tại Thông tư số 01/2010/TT-BVHTTDL ngày 26/02/2010 của bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của tổ chức sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thông tư số 17/2010/TTLT-BTTTT-BNV ngày 27/7/2010 của Bộ Thông tin - Truyền thông, Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đài phát thanh và truyền hình thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Đaì truyền thanh – truyền hình thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và Thông tư số 11/2010/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2010 quy định tiêu chí của Trung tâm Văn hóa – Thể thao quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.

+ Cơ cấu tổ chức bộ máy và nhân sự căn cứ điều kiện, đặc thù, nhu cầu của địa phương, Chủ tịch UBND huyện trình UBND tỉnh quyết định về khung tổ chức bộ máy và nhân sự của Trung tâm gồm: Lãnh đạo: Giám đốc, 02 phó giám đốc. Tổ chuyên môn, nghiệp vụ: Bộ phận hành chính – Tổng hợp; Bộ phận Văn hóa – Nghệ thuật, tuyên truyền; Bộ phận Thể dục – Thể thao; Bộ phận Thông tin – Truyền Thanh.

+ Ngoài biên chế được giao, căn cứ nhiệm vụ và nhu cầu cụ thể của đơn vị, Giám đốc Trung tâm sẽ báo cáo với Chủ tịch UBND huyện để được hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật.

+ Cơ sở vật chất của Trung tâm: Tổng diện tích đất hiện đang sử dụng: 3.726 m2; diện tích xây dựng: 1.431 m2 ; diện tích hoạt động trong nhà (đảm bảo yêu cầu phục vụ): Văn phòng, phục vụ hoạt động chuyên ngành; diện tích hoạt động ngoài trời: 2.295 m2; quy mô xây dựng: Hội trường (có 350 chỗ ngồi); phòng làm việc của lãnh đạo (diện tích phòng đảm bảo); phòng làm việc của bộ phận chuyên môn: Bộ phận hành chính – Tổng hợp; Bộ phận Văn hóa – Nghệ thuật, tuyên truyền; Bộ phận Thể dục – Thể thao; Bộ phận Thông tin – Truyền Thanh (diện tích phòng đảm bảo); công trình thể dục – thể thao: Nhà tập luyện thể thao, sân vận động; công trình phụ trợ: Sân khấu biểu diễn ngoài trời, sân vui chơi giải trí; trang thiết bị: Hội trường đa năng (Có đủ bàn ghế cho 350 chỗ ngồi; có trang bị âm thanh,ánh sáng đủ công suất phục vụ; đạo cụ, trang phục đáp ứng yêu cầu tập luyện và biểu diễn); dụng cụ tập luyện và thi đấu thể dục - thể thao (đảm bảo theo công trình thể dục – thể thao).

 

+ Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Truyền Thông-Văn hóa-Thể thao huyện Tư nghĩa tại Quyết định số 1301/QĐ-UBND ngày 21/3/2019 của Chủ tịch UBND huyện về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Truyền thông – Văn hóa – Thể thao huyện Tư Nghĩa.

+ Một số hoạt động văn hóa  - thể thao kết nối với các xã có hiệu quả như: Giải Đua thuyền truyền thống; Liên hoan Nghệ thuật quần chúng; Hội thi Văn nghệ, Thể thao các dân tộc thiểu số; Hội thi múa Lân; Liên hoan Giọng hát hay; Liên hoan thôn, tổ dân phố văn hóa tiêu biểu; Giải Bóng chuyền truyền thống; Giải Bóng đá truyền thống; Giải Cầu lông; Giải Cờ tướng. Tổ chức bình quân 12 giải thể thao/năm.

-  Trên địa bàn huyện có 04 trường Trung học phổ thông: Trường Trung học phổ thông số 1 Tư Nghĩa; Trường Trung học phổ thông số 2 Tư Nghĩa, Trường Trung học phổ thông Thu xã và Trường Trung học phổ thông Chu Văn An. Hiện đã có 03 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia, cụ thể:

+ Trường Trung học phổ thông số 1 Tư Nghĩa được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn Quốc gia, giai đoạn 2018 – 2023 tại Quyết định số 1970/QĐ-UBND ngày 01/11/2018;

+ Trường Trung học phổ thông số 2 Tư Nghĩa được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn Quốc gia, giai đoạn 2017 – 2022 tại Quyết định số 1702/QĐ-UBND ngày 13/9/2017;

+ Trường Trung học phổ thông Thu Xà được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn Quốc gia,  năm 2013 tại Quyết định số 2107/QĐ-UBND ngày 30/12/2013.

 

(Hiện Trường Trung học phổ thông Thu Xà đã quá 05 năm đang đề nghị công nhận lại)

c) Tự đánh giá: Đạt

 

6. Tiêu chí số 6 về sản xuất

a) Yêu cầu tiêu chí

Hình thành vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung đối với sản phẩm chủ lực của huyện hoặc có mô hình liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và thực hiện tiêu thụ ít nhất 10% sản lượng đối với các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của huyện theo quy hoạch

b) Kết quả thực hiện

* Về sản phẩm nông nghiệp chủ lực của huyện

- Về trồng trọt cây chủ lực của huyện cụ thể:

+ Cây lúa: Diện tích năm 2018 là 8.011,7 ha, sản lượng đạt 53.032 tấn.

+ Cây ăn quả: Diện tích 55 ha, các loại cây ăn quả chính như: bưởi da xanh; quýt đường; dừa dứa, dừa xiêm;…

+ Hiện nay trên địa bàn huyện đang thực hiện dự án rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGap tại xã Nghĩa Hiệp với quy mô 05 ha do Công ty TNHH Nông nghiệp công nghệ cao QNAsafe đầu tư. Năng suất bình quân 300-400 kg/ngày.

- Về chăn nuôi: Chăn nuôi heo thịt là sản phẩm nông nghiệp chủ lực của huyện, tổng đàn heo năm 2018 là 100.500 con, sản lượng heo hơi xuất chuồng đạt 10.965 tấn/năm.

* Kết quả thực hiện các mô hình

Mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản

- Về phát triển kinh tế trang trại, gia trại:

Hiện nay trên địa bàn huyện có 405 gia trại và 19 trang trại các loại (06 trang trại trồng trọt, 11 trang trại chăn nuôi và 02 trang trại tổng hợp); có 07 trang trại đã cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại theo Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT.

- Về liên kết sản xuất tiêu thụ trong chăn nuôi:

Có 05 trang trại chăn nuôi heo có hợp đồng liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi được ký kết giữa trại chăn nuôi với các Tập đoàn, Doanh nghiệp lớn như Cty cổ phần Chăn nuôi Thái Việt, Tập đoàn Chăn nuôi C.P Việt Nam, Cty cổ phần chăn nuôi Mavin… theo đó, các tập đoàn, doanh nghiệp cung cấp đầu vào gồm giống, vật tư và quy trình chăn nuôi tiên tiến, sau cùng là bao tiêu sản phẩm đầu ra cho trang trại. Hợp đồng ổn định quay vòng trong thời gian từ 03 - 05 năm. Tổng số lượng heo chăn nuôi theo hướng liên kết là 15.100 con, sản lượng heo hơi xuất chuồng 1.434,5 tấn/năm, đạt 13,08% so với sản phẩm chủ lực của huyện.

- Về trồng trọt hiện nay trên địa bàn huyện đã liên kết sản xuất lúa giống với các doanh nghiệp với diện tích 249 ha. Liên kết sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm cây ăn quả với diện tích 43,5ha. Về mô hình liên kết được thực hiện dưới các hình thức sau:

+ Liên kết hợp tác sản xuất lúa giống: Hiện nay trên địa bàn huyện có 09 Hợp tác xã nông nghiệp (Điện An 16 ha; Vạn An 16 ha; La Hà 16 ha; Đông Hòa 25 ha, Tây Hòa 35 ha, Đông Hiệp 60 ha, Tân An 18 ha, Châu Phú Điền 39 ha, Nghĩa Mỹ 24 ha) là tổ chức đại diện cho nông dân liên kết sản xuất lúa giống với các Doanh nghiệp (Công ty TNHH Khoa học và Công nghệ Nông Tín, Công ty TNHH Nông lâm nghiệp TBT, Trung tâm giống tỉnh) tổng diện tích liên kết 249 ha. Hợp đồng liên kết được ký kết giữa Hợp tác xã với Doanh nghiệp, sản phẩm sau khi thu hoạch được Doanh nghiệp thu mua lại 1 kg lúa tươi giống thành phẩm bằng 1 kg lúa khô (theo giá thị trường + 200 đồng) và năng suất của lúa giống cũng cao hơn so với lúa thường 20%. Người dân tham gia sản xuất lúa giống thông qua hợp tác xã liên kết với Doanh nghiệp sẽ được lợi hơn 1,4 lần so với sản xuất lúa thường.

Do đó sản suất nông nghiệp trên địa bàn huyện trong các năm trở lại đây luôn được tăng cao cả về năng suất, sản lượng và cả về chất lượng. Riêng năng suất lúa bình quân của huyện là 66,2 tạ/ha, trong khi năng suất lúa bình quân của tỉnh là 58 tạ/ha. Kết quả trên đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân.

+ Liên kết hợp tác sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm cây ăn quả, cụ thể: Liên kết với Công ty TNHH Khoa học và Công nghệ Nông Tín trồng và tiêu thụ sản phẩm cây bưởi da xanh (34,5 ha), quýt đường (3 ha) và dừa xiêm, dừa dứa (6 ha) tại các xã Nghĩa Lâm, Nghĩa Thuận, Nghĩa Điền và Nghĩa Mỹ.

c) Tự đánh giá: Đạt

 

7. Tiêu chí số 7 về môi trường

a) Yêu cầu của tiêu chí:

- Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn trên địa bàn huyện đạt tiêu chuẩn.

- Cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ (công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi, chế biến lương thực - thực phẩm) thực hiện đúng các quy định về bảo vệ môi trường.

b) Kết quả thực hiện:

 

  * Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn trên địa bàn huyện

  - Đối với chất thải rắn sinh hoạt: Trước năm 2016, khối lượng rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Tư Nghĩa do Công ty Cổ phần môi trường đô thị Quảng Ngãi thu gom, xử lý tại bãi rác xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa cho 13/15 xã, thị trấn với tổng khối lượng thu gom khoảng 18.000 tấn/năm (Bãi rác này do Công ty Cổ phần môi trường đô thị Quảng Ngãi quản lý); Từ năm 2016 đến tháng 7/2018 rác thải sinh hoạt của huyện Tư Nghĩa do Công ty Cổ phần Điện Tư Nghĩa thu gom, vận chuyển về tại bãi rác xã Nghĩa Kỳ để xử lý cho 15/15 xã, thị trấn với tổng khối lượng xử lý khoảng 23.000 tấn/năm; Tháng 8/2018 đến tháng 12/2018, bãi rác Nghĩa Kỳ đã chôn lấp đầy, không tiếp nhận rác để xử lý, đồng thời Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng miền Bắc đang trong giai đoạn  xây dựng Nhà máy xử lý rác thải tại xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa nên tạm thời chưa thu gom và xử lý, do vậy trong thời gian này lượng rác thải trên địa bàn huyện chỉ thu gom khu vực thị trấn La Hà và vận chuyển đến tập kết tạm thời tại đồi La Hà, thị trấn La Hà, các xã, thị trấn còn lại UBND huyện chỉ đạo UBND các xã, thị trấn vận động, tuyên truyền để nhân dân tự xử lý rác thải bằng hình thức đốt hoặc chôn lấp. Từ đầu năm 2019 đến nay, toàn bộ rác thải của 15 xã, thị trấn được thu gom và tập kết tại thôn An Hòa Nam, xã Nghĩa Thắng và sẽ được xử lý khi Nhà máy xử lý rác đi vào hoạt động.

 

- Đối với chất thải rắn nguy hại công nghiệp: Tại Cụm công nghiệp La Hà có 16 cơ sở đang hoạt động, trong đó có một số cơ sở có phát sinh chất thải nguy hại (bóng đèn huỳnh quang, pin, giẻ lau dầu xe…) nhưng với khối lượng ít, không đáng kể và hàng năm các cơ sở này đã thuê Công ty Cổ phần LILAMA thu gom, vận chuyển và xử lý. Riêng Nhà máy sản xuất bê tông thương phẩm của Công ty Cổ phần Anfa hoạt động trong Cụm công nghiệp La Hà được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải nguy hại theo quy định tại Điều 12 Thông tư 36/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 30/6/2015. 

 

- Đối với bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng phát sinh trên địa bàn: Các xã, thị trấn đã đặt thùng chứa ngoài đồng và tuyên truyền, vận động người dân thu gom vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng tập kết vào các thùng chứa này để vận chuyển đi xử lý ở các địa điểm phù hợp. Bên cạnh đó, UBND huyện chỉ đạo các xã, thị trấn lồng ghép nội dung thu gom, xử lý bao bì thuốc BVTV vào hương ước, quy ước của địa phương, đồng thời tuyên truyền, hướng dẫn người dân sử dụng thuốc BVTV đúng cách.

- Đối với chất thải rắn y tế:

+ Chất thải rắn y tế nguy hại: Hiện nay trên địa bàn huyện có 01 Trung tâm y tế huyện; 15 Trạm y tế xã, thị trấn và 09 phòng khám chuyên khoa. Các cơ sở này thực hiện đúng việc phân loại chất thải rắn y tế thông thường và nguy hại theo quy định tại Thông tư số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT.

+ Chất thải rắn y tế thông thường: Đối với chất thải rắn y tế thông thường tại các trạm y tế xã, thị trấn và tại Trung tâm y tế huyện được Công ty Cổ phần Điện Tư Nghĩa thu gom và xử lý.

- Bãi xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Tư Nghĩa tại xã Nghĩa Kỳ do Công ty Cổ phần môi trường đô thị Quảng Ngãi quản lý, có đầy đủ hồ sơ, thủ tục về môi trường theo quy định. Bãi chôn lấp này hoạt động từ năm 1990 và thuộc danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22/4/2003. Hiện nay, bãi rác đang được xử lý, cải tạo phục hồi môi trường theo nội dung phê duyệt tại Quyết định số 2289/QĐ-UBND ngày 13/12/2018 của UBND tỉnh Quảng Ngãi.

- Lò đốt chất thải rắn công nghiệp: Hiện nay trên địa bàn huyện không có lò đốt chất thải rắn công nghiệp.

- Lò đốt chất thải rắn y tế: Năm 2010, Trung tâm Y tế huyện Tư Nghĩa có xây dựng 01 lò đốt chất thải rắn y tế với công suất thiết kế của lò đốt là 20kg/giờ và tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế (QCVN 02:2012/BTNMT), lò đốt này không sử dụng để đốt chất thải rắn công nghiệp và sinh hoạt. Tuy nhiên, đến cuối năm 2016 lò đốt của trung tâm hư hỏng nặng nên dừng hoạt động, từ đó đến nay Trung tâm y tế huyện đã ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn y tế nguy hại với Công ty Cổ phần LILAMA để xử lý.

- Lò đốt chất thải rắn sinh hoạt, không sử dụng để đốt chất thải rắn công nghiệp và y tế: Dự án Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt tại xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa do Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển xây dựng miền Bắc được UBND tỉnh Quảng Ngãi cho chủ trương đầu tư dự án tại Quyết định số 862/QĐ-UBND ngày 18/5/2016. Hiện nay Công ty đang hoàn thiện các hạng mục của dự án.

 

* Cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ (công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi, chế biến lương thực - thực phẩm) thực hiện đúng các quy định về bảo vệ môi trường khi:

 

- Có đầy đủ hồ sơ, thủ tục về môi trường:

 

+ Trong CCN La Hà: Cụm công nghiệp La Hà được Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Đề án bảo vệ môi trường chi tiết giai đoạn I Phần xây dựng hạ tầng kỹ thuật tại Quyết định số 297/QĐ-STNMT ngày 18/12/2013 và 16 doanh nghiệp đang hoạt động tại CCN đã được phê duyệt, xác nhận hồ sơ môi trường (01 cơ sở xác nhận báo cáo Đánh giá tác động môi trường, 01 cơ sở xác nhận Đề án Bảo vệ môi trường chi tiết, 01 cơ sở xác nhận Kế hoạch bảo vệ môi trường, 13 cơ sở xác nhận Cam kết bảo vệ môi trường (có danh sách kèm theo). 

 

+ Đối với cơ sở hoạt động bên ngoài CCN:

+  Các đối tượng lập Báo cáo ĐTM: các dự án, công trình, cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, khu dân cư, cơ sở chăn nuôi có quy mô đã được phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định.

+ Các đối tượng lập hồ sơ môi trường UBND huyện xác nhận: Qua rà soát trên địa bàn huyện, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các tổ chức, các trạm y tế xã, khu dân cư…đã được xác nhận Bản cam kết bảo vệ môi trường, Đề án bảo vệ môi trường đơn giản, Kế hoạch bảo vệ môi trường. Đối với các cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh, trạm y tế…đã đi vào hoạt động trước ngày 01/4/2015 nhưng chưa được phê duyệt, xác nhận hồ sơ môi trường: Phòng Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức kiểm tra thực tế và hướng dẫn thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường và hướng dẫn cơ sở làm hồ sơ môi trường khi có văn bản hướng dẫn cụ thể của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

 

- Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại, Giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường, Giấy phép khai thác, xả nước thải vào nguồn nước theo quy định (nếu có):

 

+ Sổ đăng ký chủ nguồn thải nguy hại: Công ty Cổ phần Anfa sản xuất bê tông thương phẩm, hoạt động trong Cụm công nghiệp La Hà đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Sổ theo quy định vào ngày 06/8/2015 

 

+ Hiện nay các dự án trên địa bàn huyện thuộc đối tượng cấp Giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường đang hoạt động và thực hiện các quy định để được cấp giấy này.

+ Giấy phép khai thác, xả nước thải vào nguồn nước: Công ty TNHH May Vinatex Tư Nghĩa được UBND tỉnh cấp giấy phép số 19/GP-UBND ngày 20/3/2017 năm 2017

 

- Phương án bảo vệ môi trường đối với các đối tượng theo quy định tại Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:

Ban quản lý Cụm công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp đang thực hiện lập Phương án bảo vệ môi trường của Cụm công nghiệp sau khi đã được phê duyệt Đề án bảo vệ môi trường chi tiết theo quy định tại Điều 21 của Thông tư.

- Có công trình, biện pháp, hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường để thu gom, phân loại, lưu giữ, tái chế, thu hồi hoặc xử lý chất thải (nước thải, khí thải, chất thải rắn) đúng quy định; thực hiện đầy đủ và đúng các nội dung về bảo vệ môi trường đã cam kết trong các hồ sơ nêu trên:

Các cơ sở được cấp có thẩm quyền phê duyệt, xác nhận hồ sơ môi trường đã thực hiện các biện pháp thu gom, xử lý, thu hồi, tái chế chất thải đúng quy định. Các nội dung cơ sở thực hiện đúng với nội dung cam kết đã được phê duyệt, xác nhận.

- Cơ sở nuôi trồng thủy sản:  Hiện nay, trên địa bàn huyện có khoảng gần 300 hộ nuôi trồng thủy sản nước ngọt và nước lợ với tổng diện tích thả nuôi khoảng 42.015 m2. Hình thức nuôi với quy mô nhỏ (< 5.000 m2), không thuộc đối tượng phải lập hồ sơ môi trường theo quy định, tuy nhiên trong quá trình hoạt động các hộ dân đã tuân thủ và chấp hành nghiêm các quy định về vấn đề bảo vệ môi trường tại địa phương như: Không sử dụng thuốc thú y thủy sản, hóa chất đã hết hạn sử dụng hoặc ngoài danh mục cho phép trong nuôi trồng thủy sản; Thuốc thú y thủy sản, hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản đã hết hạn sử dụng; bao bì đựng thuốc thú y thủy sản, hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản sau khi sử dụng; bùn đất và thức ăn lắng đọng khi làm vệ sinh trong ao nuôi thủy sản phải được thu gom, xử lý theo quy định đảm bảo vệ sinh môi trường.

- Cơ sở chăn nuôi, khu chăn nuôi tập trung: Trên địa bàn huyện có 04/04 cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm đã được phê duyệt hồ sơ môi trường theo quy định; các trang trại chăn nuôi đảm bảo các điều kiện vệ sinh thú y trong chăn nuôi theo quy định tại Luật Thú y, Điều 69 Luật bảo vệ môi trường; Điều 11 Nghị định số 66/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện vật tư kinh doanh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật; giống cây trồng, nuôi động vật rừng thông thường, chăn nuôi; thủy sản; thực phẩm.

- Làng nghề trên địa bàn, cơ sở sản xuất tại làng nghề phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường làng nghề theo quy định tại Điều 70 Luật Bảo vệ môi trường, Chương IV Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và Chương III Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:

Hiện nay trên địa bàn huyện chưa có khu làng nghề nào được công nhận.

 

- Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng cụm công nghiệp, Ban quản lý khu kinh doanh, dịch vụ tập trung trên địa bàn, cơ sở trong cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung (trừ cơ sở nuôi trồng thủy sản, cơ sở chăn nuôi, khu chăn nuôi tập trung) phải có đầy đủ hồ sơ, thủ tục về môi trường theo quy định tại điểm a khoản này; đồng thời, phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung theo quy định tại Điều 67 Luật Bảo vệ môi trường và Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:

+  Cụm công nghiệp La Hà được phê duyệt Đề án bảo vệ môi trường chi tiết giai đoạn I Phần xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật của CCN được phê duyệt tại Quyết định số 7984/QĐ-UBND của UBND huyện ngày 03/12/2018 về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 mở rộng CCN La Hà, huyện Tư Nghĩa.

 

+ Đối với cơ sở trong CCN: thực hiện đầy đủ các quy định như: Có đầy đủ hồ sơ môi trường được phê duyệt, xác nhận; đóng phí nước thải công nghiệp theo quy; có Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước do UBND tỉnh cấp; lập Báo cáo giám sát môi trường định kỳ trong năm. 

 

+ Cơ sở nuôi trồng thủy sản; cơ sở chăn nuôi, khu chăn nuôi tập trung trong cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung phải thực hiện theo quy định tại điểm c hoặc điểm d khoản này; đồng thời, phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung theo quy định tại Điều 67 Luật Bảo vệ môi trường và Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:

Trên địa bàn huyện, hiện nay không có cơ sở chăn nuôi, khu chăn nuôi tập trung trong CCN.

 

- Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp trên địa bàn, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong khu công nghiệp (trừ cơ sở nuôi trồng thủy sản, cơ sở chăn nuôi, khu chăn nuôi tập trung) phải có đầy đủ hồ sơ, thủ tục về môi trường theo quy định tại điểm a khoản này; đồng thời, phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường khu công nghiệp theo quy định tại Điều 66 Luật Bảo vệ môi trường và Chương III, Chương IV Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao:

 

Trên địa bàn huyện, hiện nay không có khu công nghiệp.

 

- Cơ sở nuôi trồng thủy sản; cơ sở chăn nuôi, khu chăn nuôi tập trung trong khu công nghiệp phải thực hiện theo quy định tại điểm c hoặc điểm d khoản này; đồng thời, phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường khu công nghiệp theo quy định tại Điều 66 Luật Bảo vệ môi trường và Chương III, Chương IV Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao:

 Hiện nay huyện Tư Nghĩa không có cơ sở chăn nuôi, khu chăn nuôi tập trung trong Khu công nghiệp.

c) Tự đánh giá: Đạt

 

8. Tiêu chí số 8 về An ninh, trật tự xã hội

a) Yêu cầu của tiêu chí

- Hằng năm, Huyện ủy có Nghị quyết, Ủy ban nhân dân huyện có kế hoạch về công tác an ninh, trật tự; chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

- Không để xảy ra tình trạng khiếu kiện đông người kéo dài; khiếu kiện vượt cấp trái pháp luật.

- Không có tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội; các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật khác được kiềm chế, giảm liên tục so với các năm liền kề trước.

- Lực lượng vũ trang huyện (Công an, Bộ đội địa phương; Dân quân tự vệ) hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự tại địa phương.

b) Kết quả thực hiện

- Hàng năm, Huyện ủy có Nghị quyết, UBND huyện có kế hoạch về công tác ANTT. Chỉ đạo Công an huyện tham mưu cho Huyện ủy ban hành Chỉ thị số 30-CT/HU, ngày 23/01/2018 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm ANTT năm 2018; Chỉ thị số 31-CT/HU, ngày 12/02/2018 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc năm 2018; tham mưu cho UBND huyện ban hành Kế hoạch số 03B/KH-UBND, ngày 25/01/2018 thực hiện công tác đảm bảo ANTT năm 2018; Kế hoạch số 30/KH-UBND, ngày 19/3/2018 phát động phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ năm 2018; Công văn số 287/UBND ngày 09/02/2018 về việc tăng cường thực hiện các giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông (viết tắt là TTATGT), kiềm chế tai nạn giao thông trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018; văn bản về việc kiến nghị, chỉ đạo các cơ quan ban ngành có liên quan khắc phục các điểm hư hỏng, sạt lở trên tuyến giao thông đường bộ. Công an huyện ban hành Công văn số 333/CSH(CSGT), ngày 12/4/2018 đề nghị kịp thời việc sửa chữa cống thoát nước để bảo đảm TTATGT; Kế hoạch chỉ đạo thành lập các tổ công tác đặc biệt phối hợp lực lượng bảo đảm ANTT, TTATGT trước, trong và sau Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018; Kế hoạch thực hiện Đề án “Hợp tác quốc tế về phòng, chống mua bán người”; Kế hoạch thực hiện các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù, đặc xá trên địa bàn huyện; Kế hoạch xây dựng chiến lược quốc gia phòng, chống và rà soát ma túy ở Việt Nam đến 2020, định hướng 2030. Từ đó, đã giúp UBND huyện theo dõi, chỉ đạo các ban, ngành có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ bảo đảm ANTT trên địa bàn, góp phần tích cực trong thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện. Chỉ đạo Công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ trên địa bàn huyện. Đã chỉ đạo tổ chức phát động phong trào bảo vệ ANTQ, gắn với tuyên truyền thực hiện Nghị quyết 09/CP và Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, phòng, chống ma tuý, mại dâm, mua bán người, bảo vệ môi trường, phòng, chống cháy nổ, các tiêu chí đạt chuẩn an toàn về an ninh, trật tự xã hội và đảm bảo bình yên tại 15/15 xã, thị trấn bằng hình thức tập trung tại 56 điểm thôn, tổ dân phố có hơn 11.320 lượt người tham gia, tại một số cơ quan, doanh nghiệp, trường THCS, Tiểu học trên địa bàn huyện, có 6.370 học sinh và giáo viên tham dự; đưa ra kiểm điểm, nhắc nhở 36 đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật đã xử lý, có 70 ý kiến đóng góp xây dựng cho lực lượng Công an xã, thị trấn trong lĩnh vực ANTT. Chỉ đạo Công an huyện tổ chức 41 buổi tuyên truyền tập trung về các quy định của pháp luật về TTATGT tại các trường học, khu dân cư với hơn 10.000 lượt người tham dự; 15 lượt diễu hành tuyên truyền lưu động bằng xe ô tô trên các tuyến đường với trên 1.500 lượt CBCS và thanh niên tình nguyện tham gia. Đặc biệc, đã xây dựng và tổ chức ký kết, xây dựng mô hình “Văn hóa giao thông trong học sinh, sinh viên” tại trường THPT Chu Văn An; qua đó, phối hợp với nhà trường tuyên truyền, tuần tra, nhắc nhở, xử lý các trường hợp học sinh vi phạm quy định về TTATGT; tổ chức 63 lượt tuyên truyền các quy định về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, quản lý sử dụng pháo trên địa bàn trong toàn huyện; vận động Nhân dân giao nộp 02 súng hơi, 03 súng tự chế đạn bi hơi cồn; 37 viên đạn Rulô và 01 súng AK quân dụng; thu gom, tiêu hủy 01 quả đạn M79, 01 quả đạn cối 60; thường xuyên tổ chức kiểm tra nhắc nhở 54 cơ sở hoạt động kinh doanh ngành nghề có điều kiện về ANTT trên địa bàn huyện. Phối hợp cung cấp 15 tin, phóng sự phát sóng trên truyền hình an ninh Quảng Ngãi, 06 tin trên chương trình phát thanh "Vì ANTQ", chỉ đạo phát 47 tin, bài trên Đài truyền thanh huyện nhằm kịp thời biểu dương gương người tốt, việc tốt trong lực lượng CAND và quần chúng tiêu biểu, xuất sắc trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội, cũng như phương thức, thủ đoạn hoạt động của các loại tội phạm để Nhân dân nâng cao cảnh giác, kịp thời phát hiện, tố giác tội phạm. Chỉ đạo củng cố, xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến, xuất sắc trong phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội trên địa bàn; phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện và các ngành, hội, đoàn thể trong huyện hướng dẫn, chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương, các cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường tiếp tục duy trì hoạt động đối với 32 mô hình, hướng dẫn xây dựng mới 03 mô hình gồm: Mô hình “Camera tự quản về ANTT” tại thị trấn Sông Vệ; mô hình “Câu lạc bộ phát triển bền vững; nhóm phòng, chống bạo lực gia đình” tại thôn Đông Mỹ, xã Nghĩa Hiệp; mô hình “Hội viên Cựu Chiến binh thị trấn tham gia quản lý, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng” tại thị trấn La Hà, tổng cộng có 35 mô hình, nhân rộng mô hình “Tổ phòng chống tội phạm” tại thôn Đông Mỹ, xã Nghĩa Hiệp, các mô hình thường xuyên hoạt động có hiệu quả. Chỉ đạo Công an huyện đề nghị Giám đốc Công an tỉnh bổ nhiệm 01 đ/c Công an chính quy đảm nhiệm Trưởng Công an xã, 04 đ/c Công an chính quy đảm nhiệm Phó trưởng Công an xã tại các xã trên địa bàn. Thường xuyên kiện toàn công an các xã, thị trấn. Chỉ đạo Công an huyện ban hành công văn hướng dẫn cho cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường, xã, thị trấn, thôn, tổ dân phố trên địa bàn huyện đăng ký xây dựng đạt tiêu chuẩn “An toàn về ANTT” theo Thông tư số 23/2012/TT-BCA-V28 của Bộ Công an; chỉ đạo tăng cường công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ trong các cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường trên địa bàn huyện. Kết quả đánh giá, phân loại năm 2018 có: 82/82 thôn, tổ dân phố; 15/15 xã, thị trấn đạt tiêu chuẩn “An toàn về ANTT”, đạt tỉ lệ 100%, trong đó có 12 xã, thị trấn xếp loại phong trào xuất sắc, 03 xã xếp loại phong trào khá, không có loại Trung bình và Yếu; 32/32 cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường đạt tiêu chuẩn “An toàn về ANTT” đạt tỉ lệ 100%, trong đó có 17 cơ quan, 03 doanh nghiệp, 03 nhà trường xếp loại phong trào Xuất sắc; 08 cơ quan, 01 nhà trường xếp loại phong trào Khá, không có loại Trung bình và Yếu; 13/13 xã đạt Tiêu chí 19.2. Trước năm 2018, địa bàn huyện đã có 08/13 xã về đích nông thôn mới, năm 2018 có 05/13 xã về đích nông thôn mới, tổng cộng hiện có 13/13 xã đã về đích nông thôn mới, 02 thị trấn La Hà và Sông Vệ đạt tiêu chuẩn đô thị loại 5.

- Không để xảy ra tình trạng khiếu kiện đông người kéo dài, khiếu kiện vượt cấp trái pháp luật

 

+ Năm 2018, tình trạng tập trung đông người tại trụ sở UBND các xã để khiếu kiện liên quan đến việc triển khai thực hiện các dự án của huyện, các vấn đề liên quan đến đất đai, ô nhiễm môi trường vẫn còn diễn ra (có danh sách thống kê kèm theo); đáng chú ý là vụ việc 03 lượt, với khoảng trên 550 người dân tập trung tại trụ sở UBND xã Nghĩa Phương và Ngã ba Chợ tre phản đối việc chính quyền địa phương thống nhất cho xây dựng khu cải táng tại nghĩa địa Đề Bô Núi Trọc, xã Nghĩa Phương và vụ việc người dân tập trung ngăn cản không cho xe đổ rác vào bãi rác Nghĩa Kỳ; 03 vụ việc người dân có phản ứng liên quan đến việc thu phí tại Trạm thu phí BOT Thiên Tân - Thành An.

+ Trước tình hình trên, UBND huyện đã chỉ đạo các đơn vị, địa phương, lực lượng Công an các cấp chủ động phối hợp triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, kịp thời nắm tình hình tham mưu cho Huyện ủy 19 văn bản, UBND huyện 28 văn bản chỉ đạo trong công tác vận động, giải thích, giải quyết các vướng mắc, những tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện các dự án; giải quyết kịp thời các vụ việc phức tạp, tập trung đông người khiếu kiện, không để xảy ra phức tạp, kéo dài.

+ Tham mưu BCĐ Phòng chống tập trung đông người gây rối trật tự công cộng, phá rối an ninh, bạo loạn, khủng bố, thành lập Ban chỉ huy Thống nhất chống tập trung đông người gây rối trật tự công cộng, phá rối an ninh, bạo loạn, khủng bố huyện Tư Nghĩa; tham mưu BCĐ bảo vệ Bí mật nhà nước huyện ban hành 02 văn bản, BCĐ nhân quyền huyện ban hành 02 văn bản nhằm đảm bảo tình hình ANTT trên địa bàn.

+ Đối với các vụ việc có dấu hiệu phức tạp, Công an huyện đã chủ động phối hợp các ban, ngành có liên quan kịp thời tham mưu UBND huyện thành lập đoàn kiểm tra để thanh tra kết luận vụ việc và thông báo theo đúng qui định. Tính đến thời điểm hiện tại, đã tham mưu giải quyết ổn định tình hình 08/08 vụ, không để xảy ra khiếu kiện đông người kéo dài, khiếu kiện vượt cấp trái pháp luật.

- Không có tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội; các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật khác được kiềm chế, giảm so với các năm trước

+ Tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội: Qua công tác nghiệp vụ, công tác theo dõi nắm tình hình, đến nay trên địa bàn huyện chưa có tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội.

+ Tội phạm và vi phạm pháp luật về trật tự xã hội: Xảy ra 70 vụ (giảm 16 vụ = 18,6% so với cùng kỳ năm 2017), trong đó chủ yếu là trộm cắp tài sản, cờ bạc (xảy ra 39/70 vụ đánh bạc, chiếm 56%; 25/70 vụ trộm cắp tài sản, chiếm 36%); đã phát hiện, xử lý 65/74 vụ (trong đó có 04 vụ/05 đối tượng trộm cắp tài sản xảy ra năm 2017 nhưng đến năm 2018 mới phát hiện), bắt xử lý 194 đối tượng.

+ Tội phạm về kinh tế, chức vụ; vi phạm pháp luật về môi trường: Phát hiện và làm rõ 15 vụ/15 đối tượng (tăng 07 vụ so với cùng kỳ năm 2017); trong đó, 08 vụ/08 đối tượng vi phạm pháp luật về kinh tế, 07/07 đối tượng vi phạm pháp luật về môi trường. Tuy nhiên, tội phạm tăng là do lực lượng công an tăng cường tấn công trấn áp tội phạm để đấu tranh bắt  giữ nên cuối năm 2018 vi phạm giảm đáng kể.

+ Tội phạm về tệ nạn ma túy: Phát hiện và làm rõ 02 vụ/07 đối tượng Sử dụng trái phép chất ma túy (số vụ không tăng, không giảm, tăng 01 đối tượng so với cùng kỳ năm 2017).

+ Tình hình vi phạm các quy định của pháp luật trong hoạt động kinh doanh ngành nghề có điều kiện về ANTT: Qua kiểm tra phát hiện 03 cơ sở vi phạm (giảm 09 trường hợp so với cùng kỳ năm 2017). Đặc biệt, đã phát sinh 01 trường hợp vi phạm lỗi “…mua, bán…trái phép pháo…”; kiểm tra, phát hiện 03 điểm kinh doanh các dịch vụ văn hóa vi phạm về giờ giấc hoạt động, ra quyết định xử phạt 4 trường hợp với tổng số tiền 7.250.000 đồng.

+ Tình hình cháy, nổ: Xảy ra 01 vụ cháy, thiệt hại tài sản ướt tính khoảng 02 tỷ đồng (giảm 03 vụ so với cùng kỳ năm 2017), nguyên nhân do va chạm giao thông. Nổ không xảy ra vụ nào (không tăng, không giảm so với cùng kỳ năm 2017).

+ Tai nạn giao thông:

 

• Đường bộ: Từ ít nghiêm trọng trở lên xảy ra 07 vụ, làm chết 08 người, bị thương 03 người (giảm 10 vụ, 10 người chết, 03 người bị thương so với cùng kỳ năm 2017) và xảy ra 60 vụ va chạm giao thông, làm bị thương nhẹ 92 người (giảm 53 vụ, 53 người bị thương so với cùng kỳ năm 2017).

 Đường sắt: Không xảy ra (giảm 01 vụ, 01 người chết so với cùng kỳ năm 2017).  Tai nạn khác: Xảy 09 vụ, làm chết 12 người, bị thương 01 người.

 

 Trước tình hình trên UBND huyện đã kịp thời chỉ đạo các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương, lực lượng Công an các cấp tổ chức ra quân, mở đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội theo từng hệ, loại đối tượng và lĩnh vực. Kết quả đã điều tra, khám phá 65/74 vụ (giảm 16 vụ so với cùng kỳ năm 2017) (đạt tỉ lệ 87,83 %); bắt, xử lý 194 đối tượng. Phối hợp với địa phương gọi hỏi, răn đe, giáo dục 125 đối tượng hình sự, cờ bạc.

• Công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế, môi trường và ma túy: Phát hiện, xử lý 17 vụ/17 vụ (đạt tỉ lệ 100%), với 21 đối tượng vi phạm pháp luật về kinh tế, môi trường và ma túy.

Công tác giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố: Tiếp nhận 40 tin báo, tố giác (giảm 03 tin so với cùng kỳ năm 2017); trong đó, trực tiếp giải quyết 39 tin, chuyển cơ quan khác giải quyết 01 tin.

Công tác điều tra tố tụng: Tổng số án thụ lý điều tra trong năm là 21 vụ/21 bị can (có 02 vụ khởi tố dưới 02 tháng); trong đó, án năm 2017 chuyển sang: 02 vụ/02 bị can, khởi tố mới 19 vụ/19 bị can. Đã kết thúc điều tra, đề nghị truy tố 12/17 vụ, với 17 bị can (đạt tỷ lệ 70,59%), đình chỉ 02 vụ/01 bị can, tạm đình chỉ điều tra 03 vụ/0 bị can; chuyển cơ quan điều tra khác theo thẩm quyền 01 vụ/01 bị can.

+ Trong năm 2018, đã chỉ đạo giải quyết đạt chất lượng, hiệu quả các vụ án, vụ việc vi phạm pháp luật xảy ra trên địa bàn, đảm bảo tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

- Lực lượng vũ trang huyện (Công an, Bộ đội địa phương, Dân quân tự vệ) hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự tại địa phương.

+ Chủ động lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang huyện tổ chức quán triệt, giáo dục chính trị tư tưởng cho đảng viên, cán bộ, chiến sĩ (CBCS); chú trọng công tác nghiên cứu đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo, chỉ huy trong đơn vị, kịp thời chỉ đạo cơ quan tham mưu xây dựng, triển khai thực hiện hiệu quả nhiều Phương án, Kế hoạch công tác, đảm bảo Quốc phòng – An ninh; xây dựng lực lượng vũ trang huyện trong sạch, từng bước chính quy, hiện đại.

+ Chỉ đạo Ban Chỉ huy quân sự huyện, Công an huyện thường xuyên tăng cường CBCS về cơ sở phối hợp với Dân quân tự vệ, Công an xã, thị trấn quản lý, bám sát địa bàn, đối tượng đồng thời tuyên truyền, vận động quần chúng lên án tố giác tội phạm và các tệ nạn xã hội; phòng, chống cháy nổ; chủ động ngừa, đấu tranh, xử lý kịp thời có hiệu quả các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và các vụ tập trung khiếu kiện đông người, không để xãy ra đột biến, bất ngờ, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ Quốc phòng – An ninh trong tình hình mới.

+ Chỉ đạo Ban Chỉ huy quân sự huyện, Công an huyện triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị Quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trọng nội bộ”; tăng cường trách nhiệm và xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”,  gắn với thực hiện “Năm mẫu mực về điều lệnh – Chính quy” và “An toàn giao thông”; phong trào “Công an nhân dân học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy” tăng cường lãnh đạo nâng cao văn hóa ứng xử CAND trong tình hình mới. Đồng thời thường xuyên quan tâm, thực hiện kịp thời, đảm bảo các chế độ, chính sách đối với CBCS. Do đó, trong thời gian qua lực lượng vũ trang huyện luôn có tư tưởng vững vàng, an tâm công tác; hơn nữa còn ra sức thi đua nổ lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

- Năm 2018 lực lượng vũ trang huyện hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao:

+ Công an huyện được Chủ tịch UBND huyện tăng Giấy khen đã có thành tích trong phong trào “Toàn dân bảo vệ ANTQ”. Đảng bộ Công an huyện được Huyện ủy Tư Nghĩa công nhận “Hoàn thành tốt nhiệm vụ”; Giám đốc Công an tỉnh tặng Giấy khen cho 01 lượt tập thể đơn vị, 6 lượt tập thể đội, 36 lượt cá nhân và 2 lượt công dân có thành tích xuất sắc trong các đợt thi đua và đột xuất; Chủ tịch UBND huyện tặng Giấy khen đột xuất đối với tập thể đơn vị và 02 CBCS trong công tác tấn công, trấn áp tội phạm.

+ Ban Chỉ huy quân sự huyện hoàn thành xuất sắc phong trào thi đua thực hiện quốc phòng, quân sự địa phương góp phần xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh vững mạnh; Đảng bộ được Huyện ủy Tư Nghĩa công nhận “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” và được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen trong phong trào thi đua thực hiện quốc phòng, quân sự địa phương.

c) Tự đánh giá: Đạt

 

9. Tiêu chí số 9 về Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới

a) Yêu cầu tiêu chí

- Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được kiện toàn tổ chức và hoạt động đúng quy định.

- Văn phòng Điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cấp huyện (gọi tắt là Văn phòng nông thôn mới huyện) được tổ chức và hoạt động đúng quy định.

b) Kết quả thực hiện

- Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới thành lập tại Quyết định số 1912/QĐ-UBND ngày 20/10/2010 của UBND huyện về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Tư nghĩa, giai đoạn 2010 – 2020; ban hành Quy chế làm việc tại Quyết định số 06/QĐ-BCĐ  ngày 10/8/2011 của Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Tư nghĩa giai đoạn 2010-2020; Ban chỉ đạo chương trình xây dựng nông thôn mới kiện toàn tại Quyết định 1192/QĐ-UBND ngày 11/7/2011, Quyết định số 1545/QĐ-UBND ngày 16/8/2013, Quyết định số 3273/QĐ-UBND ngày 01/8/2016, Quyết định số 710/QĐ-UBND ngày 08/02/2017, Quyết định số 3895/QĐ-UBND ngày 08/8/2017, Quyết định số 4580/QĐ-UBND ngày 20/9/2017, Quyết định số 2559/QĐ-UBND ngày 28/5/2018, Quyết định số 7021/QĐ-UBND ngày 23/10/2018.

- Công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện các nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên phạm vi địa bàn được huyện chỉ đạo tích cực, đảm bảo kịp thời, hiệu quả, đúng quy định. Trong giai đoạn 2011-2018 UBND huyện đã ban hành gần 300 văn bản để chỉ đạo, điều hành, thực hiện chương trình.

 

(Kèm theo phụ lục văn bản chỉ đạo điều hành)

 

- Văn phòng Điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cấp huyện (gọi tắt là Văn phòng nông thôn mới huyện)  được thành lập tại Quyết định số 2008/QĐ-UBND ngày 02/7/2015 của Chủ tịch UBND; Văn phòng nông thôn mới huyện ban hành Quy chế hoạt động của Văn phòng tại Quyết định số 38/QĐ-VPĐP ngày 08/8/2016

- Văn phòng nông thôn mới đảm bảo thực hiện hoàn thành đúng, đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định tại Quyết định số 1920/QĐ-TTg ngày 05/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ, cụ thể:

 + Về vị trí chức năng: Văn phòng nông thôn mới huyện do phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm cơ quan thường trực, thực hiện chức năng giúp Ban chỉ đạo huyện quản lý và tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện.

+ Nhiệm vụ, quyền hạn: Giúp Ban chỉ đạo huyện xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện; tham mưu xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm về thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện; tham mưu xây dựng kế hoạch vốn, phân bổ và giám sát tình hình thực hiện vốn ngân sách và các nguồn vốn huy động khác để xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện; thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền về Chương trình trên địa bàn huyện; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng công tác xây dựng nông thôn mới cho cán bộ ở các cơ quan có liên quan trên địa bàn huyện, Ban chỉ đạo xã, Ban quản lý xã, Ban phát triển thôn; đề xuất việc khen thưởng cho các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào “Chung sức xây dựng nông thôn mới” trên địa bàn huyện; tham mưu cho Uỷ ban nhân dân huyện tổ chức thẩm tra, đề nghị xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới; lập nhu cầu kinh phí phục vụ hoạt động của Ban chỉ đạo huyện, Văn phòng nông thôn mới huyện trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và thực hiện; bảo quản hồ sơ, tài liệu của Ban chỉ đạo huyện; quản lý kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị của Văn phòng nông thôn mới huyện theo qui định của pháp luật; thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Trưởng ban và Phó Trưởng ban chỉ đạo huyện.

+ Tổ chức bộ máy và biên chế: Chánh Văn phòng nông thôn mới do Phó Chủ tịch UBND huyện phụ trách lĩnh vực nông nghiệp, tài nguyên kiêm nhiệm; Phó Chánh Văn phòng nông thôn mới do Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chuyên trách đảm nhận; hai biên chế chuyên trách và Công chức các phòng, ban của huyện làm nhiệm vụ thành viên kiêm nhiệm Văn phòng nông thôn mới.

 

(có phụ lục 9 tiêu chí kèm theo)

c) Tự đánh giá: Đạt

Trên đây là toàn bộ báo cáo kết quả thực hiện các tiêu chí huyện nông thôn mới năm 2018 của UBND huyện Tư Nghĩa

(Theo Báo cáo số 125/BC-UBND ngày 04/5/2019 của UBND huyện)

   Ý kiến của bạn  
Họ tên bạn*Email:
Tiêu đề
Nội dung*
Mã số xác thực(*)    
   Các tin,bài khác
Xem các tin khác
   Phim, tư liệu
  Các tin xem nhiều nhất
   Liên kết web
   Thăm dò ý kiến
Chuyên mục bạn quan tâm nhất trên website là gì
Giá trị văn hóa truyền thống
Tin kinh tế - xã hội
Tin Y tế-văn hóa-giáo dục
Tin khoa học công nghệ và môi trường
  Tiện ích
   Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 9522968
Đang trực tuyến: 325